CỨU THƯƠNG + NHÂN LOẠI.

Bản đồ vùng Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1940.

CỨU THƯƠNG + NHÂN LOẠI.

Mai này Trung Nhật định kỳ.

Nhân gian ra cảnh sầu bi đau lòng,

Chợ chiều con trẻ hoài mong..?

Nhưng không tổ chức cũng không họp, chờ!

 *******

Toàn dân luyện pháp công phu…

Vào cơn sóng dữ, Việt độ Nhật Trung…

Nay ta ban thuốc dặn dò…

Cố làm cho đúng, đừng lo bệnh tình.

   *******

Đậu đen đậu đỏ, đậu xanh.

   Đậu vàng đậu ván để dành mươi cân,

Đường phèn đường cát rất cần.

Đương quy, bạch truật, sa nhân đủ đầy.

Chanh, Sả, Nghệ sống Sắn dây…

*******

Bốn món phân định, có ngay trong nhà .

Khi cần cứ việc lấy ra.

Chia từng nhóm một, dùng ba ngày liền.

Dù ai bệnh nặng oan khiêng…

*******

Dược Sư Tâm Chú, học cho thật thuần.

Cú Thần Chú trì thành tâm.

Các cách pha chế thuốc tiên tiêu trừ.

 Khất lại, Truyền thừa tương lai.

*******

Nam Mô Nguyện Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát.

Nam Mô ANUNNAKI 1_777_71_43+

 

Chiến tranh Trung – Nhật là chiến tranh giữa Trung QuốcNhật Bản bắt đầu từ 7 tháng 7 năm 1937 khi quân Thiên hoàng tiến chiếm Bắc Trung Hoa, khởi đầu từ Sự kiện Lư Câu Kiều và kết thúc khi Nhật đầu hàng quân Đồng Minh ngày 9 tháng 9 năm 1945 vào cuối cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai (1939–1945). Đây là cuộc chiến tranh lớn nhất ở châu Á thế kỷ 20.[7]. Sử sách Trung Quốc và Đài Loan gọi tên cuộc chiến là Chiến tranh kháng Nhật, giải phóng nhân dân hoặc Kháng chiến chống Nhật, cứu quốc.

Bản đồ vùng Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1940.
Bản đồ vùng Nhật Bản chiếm đóng vào năm 1940.

Nguồn gốc của chiến tranh Trung – Nhật có thể là Chiến tranh Thanh – Nhật diễn ra trong hai năm 1894–1895, khi Trung Quốc dưới triều Thanh, bị Nhật Bản đánh bại phải nhường Đài Loan và công nhận Triều Tiên độc lập qua Hiệp ước Shimonoseki (Mã Quan). Triều Thanh đang trong buổi hoàng hôn sụp đổ bởi các cuộc khởi nghĩa bên trong và chủ nghĩa đế quốc bên ngoài, trong lúc Nhật Bản đã trở thành một cường quốc sau công cuộc Minh Trị Duy tân.[8]. Trung Hoa Dân quốc được thành lập năm 1912 sau cuộc cách mạng Tân Hợi lật đổ triều Thanh. Nước Cộng hòa non trẻ thậm chí còn trở nên suy yếu hơn bởi sự xung đột của các quân phiệt. Một vài sứ quân thậm chí còn liên kết với nước ngoài nhằm nỗ lực quét sạch các đối thủ khác. Ví dụ, quân phiệt Trương Tác Lâm của Mãn Châu hợp tác rộng rãi với Nhật để nhận viện trợ quân sự và kinh tế.[9]

Năm 1915, Nhật đưa ra 21 yêu sách nhằm tăng cường quyền lợi chính trị và thương mại ở Trung Quốc.[10] Tiếp sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nhật giành lấy khu vực ảnh hưởng của Đế quốc Đức ở Sơn Đông.[11] Trung Quốc dưới thời chính phủ Bắc Dương còn bị chia cắt không thể chống lại sự xâm nhập của nước ngoài cho đến Chiến tranh Bắc phạt năm 1926 – 1928, do Trung Quốc Quốc dân đảng đối lập ở Quảng Châu tiến hành.[12]

Ngày 18-9-1931, Nhật bắt đầu xâm lược Đông bắc Trung Quốc. Chính quyền Tưởng Giới Thạch chủ trương không kháng cự, nên chỉ trong vòng vài tháng toàn bộ vùng Mãn Châu (Đông bắc Trung Quốc) rộng lớn đã rơi vào tay Nhật. Sau đó, tháng 1/1932, Nhật tấn công Thượng Hải. Năm 1933, Nhật chiếm Nhiệt Hà và miền bắc Sát Cáp Nhĩ; năm 1935, chiếm miền đông bắc tỉnh Hà Bắc.

Ngày l-8-1935, Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc ra lời kêu gọi “đình chỉ nội chiến, đoàn kết chống Nhật”, được nhân dân hưởng ứng. Phong trào biểu tình thị uy chống Nhật lan rộng khắp trong nước. Từ tháng 5/1936, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã nhiều lần đề nghị Quốc dân đảng đình chiến, hợp tác thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chống Nhật. Tuy nhiên, chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch vẫn dồn sức tiêu diệt Đảng cộng sản Trung Quốc chứ không lo chống Nhật.

Ngày 4/12/1936, 2 tướng của Quốc dân đảng là Trương Học LươngDương Hổ Thành được lệnh của Tưởng Giới Thành tấn công đại bản danh của Đảng cộng sản tại Diên An. Do ủng hộ phong trào kháng chiến chống Nhật của Đảng cộng sản Trung Quốc nên 2 ông cố tình trì hoãn việc tiến công. Ngày 6/12, hai tướng thỉnh cầu Tưởng Giới Thạch đình chỉ nội chiến và cùng Đảng cộng sản chống Nhật nhưng bị Tưởng cự tuyệt. Do căm ghét thái độ “hàng Nhật chống Cộng” của Tưởng, tối 12/12/1936 hai tướng cho quân bao vây Hoa Thanh trì và bắt sống Tưởng cùng bộ hạ đưa về Tây An tống giam, đó chính là Sự biến Tây An. Sau sự kiện này, Tưởng Giới Thạch đã phải đồng ý hợp tác với Đảng cộng sản Trung Quốc để kháng chiến chống Nhật.

Kết quả:

Chiến tranh đã chấm dứt do Nhật Bản đầu hàng phe Đồng minh vào tháng 8 năm 1945. Tuy Trung Quốc đã không thể thắng Nhật Bản trên lục địa châu Á trong cuộc chiến Trung – Nhật này nhưng chiến thắng chung cuộc của phe Đồng minh cũng khiến Trung Quốc trở thành nước thắng trận.

Kết quả của cuộc chiến là Trung Quốc đã chiếm lại được Mãn Châu, Đài Loan và Bành Hồ (những lãnh thổ đã bị rơi vào tay Nhật từ trước chiến tranh), tuy nhiên Trung Quốc phải chấp nhận việc Mông Cổ độc lập. Ngoài ra, Trung Hoa Dân Quốc còn có ghế trong Hội đồng Thường trực của Liên Hiệp Quốc. Ghế này của Trung Hoa Dân Quốc sau đó được chuyển lại cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.

(Nguồn Wikipedia!)

Tag: Trung Nhật, Chiến tranh.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *